BẢN ĐỒ SÔNG TÔ LỊCH

*

Từ đầu thế kỷ XX dòng sông Tô Lịch trở nên ô nhiễm nặng vì chủ yếu phải chở các loại nước thải công nghiệp và sinh hoạt từ nội thành mà hầu như không qua xử lý. Cuối những năm 1990, Hà Nội bắt đầu dự án nạo vét, kè bờ, xây đường, bắc cầu, nâng cấp cảnh quan và môi trường. Dù có nhiều nỗ lực cải tạo rất tốn kém, gần đây nhiều đoạn sông đã bị xâm lấn trở lại và vẫn bẩn. Đặc biệt, do lưu lượng nước thải đã lên đến khoảng 150.000m³ mỗi ngày nên sau khi đổ vào sông Nhuệ thì toàn bộ dòng nước hạ nguồn càng bị ô nhiễm hơn.

Bạn đang xem: Bản đồ sông tô lịch

Sông Tô Lịch ngày nay chỉ còn dài gần 20km, bề ngang cũng bị thu hẹp, thuyền nhỏ chỉ đi được trong từng đoạn ngắn. Dòng sông từ Hồ Tây chảy song song với các đường Thụy Khuê, Bưởi, Láng rồi đi qua các phường Khương Đình, Kim Giang, Đại Kim, Thanh Châu, Huỳnh Cung, Tựu Liệt, Yên Ngưu, Văn Điển, Cổ Điển và đổ vào hồ Yên Sở, ngoài ra còn thông thủy với sông Nhuệ ở Hữu Hoà và Dương Hiền.

*
Sông Tô Lịch trong thế kỷ XX

Lược sử

Trước thế kỷ XII, thuyền có thể đi lại dễ dàng trên sông Tô và vào ra sông Hồng qua hai cửa. Cửa thứ nhất là Thiên Phù, nhưng đoạn sông từ Nhật Tân cho đến vùng Bưởi bị cạn hẳn vào giữa thời Lý. Cửa thứ hai là Hương Bài tức Giang Khẩu, sau đổi tên là Hà Khẩu, lại bị Pháp lấp vào cuối thế kỷ XIX để xây khu phố mới và mở rộng đô thị Hà Nội.

Từ đó, Tô Lịch trở thành một kênh nước thải kéo dài từ hồ Tây đến chỗ thoát ra sông Nhuệ và hồ Yên Sở. Tuy hai cửa sông cùng nhiều hồ ao đã biến mất hoàn toàn vào đầu thế kỷ XX, nhưng hiện nay vẫn còn rất nhiều dấu vết lịch sử văn hoá ở ven hai bờ sông Tô như: đền Bạch Mã, đình Hương Nghĩa, chùa Cầu Đông->132>, đền Yên Thành, Quán Thánh, đền Vệ Quốc, đền Đồng Cổ, chùa Mật Dụng, đình An Thái v.v., trong đó có khoảng 100 di tích quốc gia.

*

Vào thế kỷ VIII và thứ IX, dọc bờ nam sông Tô thuộc vùng đất nội thành Thăng Long có thành Giao Châu còn gọi là Đại La Thành, cửa mở ra phía sông Hồng gọi là Đông La Môn. Lại có Tử Thành tức thành Con. Đến năm 858, Tử Thành được mở rộng, bên ngoài hào vây quanh thành được rào bằng tre, trúc nên gọi là thành Lặc Trúc. Trải qua những biến cố lịch sử, sông Tô Lịch từng mang nhiều tên khác như Lai Tô, Hương Bài, Địa Bảo, Kim Giang.

Xem thêm: Trung Quốc Y Án Tử Hình Ở Trung Quốc Giữ Y Án Tử Hình Công Dân Canada

*

Nhánh sông Tô Lịch còn lại ngày nay coi như bắt nguồn từ làng Thuỵ Chương (đầu phố Ngọc Hà) chảy về hướng tây qua đền Voi Phục Thuỵ Khuê đến Chợ Bưởi thì quặt xuống phía nam. Theo dọc phố Thuỵ Khuê xưa kia có 3 làng nghề làm giấy dó cổ truyền là: Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thái (Bưởi). Làng nào cũng có đình riêng và cổng làng xây theo kiểu khác nhau. Trên phố này toạ lạc ngôi đền Vệ Quốc, được lập từ thời Lý, ghi niên hiệu Thiên Thuận (năm 1128). Đền thờ hai anh em Cống Lễ và Cá Lễ, hai nhân vật truyền thuyết có công đánh giặc, giữ nước và trị thủy giúp dân.

*

Đoạn giữa sông phía tây-nam

Khúc sông Tô ở mạn tây kinh thành chảy từ Chợ Bưởi xuống phía nam qua các làng nghề với nhiều nhà thờ họ của các dòng họ khoa bảng nổi tiếng và di tích đình, đền, chùa lên quan đến những vị thần hay người dân có công với nước. Ví dụ như đền Voi Phục thờ thần Linh Lang —Trấn tây Thăng Long, hay địa danh Cầu Giấy nhắc đến nghề làm giấy xưa kia của làng Yên Hoà. Đối diện với làng Cót là làng Láng Thượng ở bờ đông sông Tô, nơi có Chiêu Thiền Tự, tức chùa Láng thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh, chùa Nền thờ cha mẹ Đạo Hạnh, v.v..

*

Đoạn cuối sông phía nam

Khúc sông Tô ở phía nam thành Thăng Long chảy qua Trung Hòa, Thịnh Quang, Thượng Đình... rồi đến làng khoa bảng Kim Lũ là nơi sinh ra của các danh nhân văn hoá như: Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thế, Nguyễn Trọng Hợp, v.v..

*

Từ ngã ba sông Tô thuộc Thanh Liệt có một nhánh rẽ về phía đông, chảy qua cầu Văn Điển vào hồ Yên Sở rồi được bơm ra sông Hồng. Sông Tô ngày nay thông thuỷ với sông Nhuệ ở hai điểm. Điểm thứ nhất ở cạnh cầu Hữu Hòa và đầu làng Tó, thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì. Điểm thứ hai ở cạnh đình Dương Hiền, thuộc xã Hòa Bình, huyện Thường Tín.